Thánh Nữ Rosa Lima Mẫu Gương Tuyệt Vời Cho Đời Sống Thiêng Liêng

 Nt. Maria Rosa Dương Tuyết, op1. 

Dẫn nhập

Tự bản chất con người luôn khao khát và tìm kiếm cái tuyệt đối, cái siêu việt và bản ngã của chính mình. Đặc biệt là người Kitô hữu, chúng ta tìm kiếm một cuộc sống với Thiên Chúa, vì Thiên Chúa và cho Thiên Chúa. Để có được cuộc sống như vậy, chúng ta phải không ngừng hướng về Thiên Chúa và tìm kiếm thánh ý của Ngài qua việc cầu nguyện và bác ái với tha nhân. Vậy, phải chăng cầu nguyện và bác ái là hai điều cốt yếu của đời sống thiêng liêng, một thứ không thể thiếu đối với mỗi người tín hữu chúng ta ?

Để trả lời câu hỏi này, hãy cùng nhau tìm hiểu đôi nét về cuộc đời của một vị thánh nữ mà có lẽ tên của người không xa lạ gì với chúng ta, để từ đời sống của thánh nhân, chúng ta hiểu con đường chính yếu dẫn thánh nữ đến sự trọn lành ; và nhờ gương mẫu của thánh nữ, chúng ta cũng khám ra con đường mà Thiên Chúa đang muốn chúng ta lựa chọn và bước đi để đạt đến sự “ trọn hảo” như lòng Chúa mong muốn, đó chính là thánh nữ Rosa de Lima.

1.- Đời sống của thánh nhân

Rosa sinh ra trong một gia đình nghèo ở Lima vào ngày 20 tháng 4 năm 1586. Khi lãnh nhận bí tích Rửa Tội, chị được đặt tên là Isabelle, nhưng mẹ của chị, đã nhìn thấy một bông hồng nở trên khuôn mặt nhỏ bé xinh xắn của chị và đã thốt lên : “Từ giờ trở đi, con sẽ là Bông Hồng của mẹ”. Từ Bông Hồng (Rosa) nhỏ bé đó đã tỏa ra một loại hương thơm kết tinh từ cuộc sống giản dị, khiêm tốn và đầy lòng yêu mến, tương phản với những cảnh tượng đẫm máu của thành phố Lima thời bấy giờ. Chị là một Bông Hồng thánh thiện đầu tiên nở hoa trên miền đất Nam Mỹ. Ngay từ thuở bé, chị đã được nuôi dưỡng bởi những câu chuyện về cuộc đời của thánh nữ Catarina thành Siêna, người đã trở thành một hình mẫu cho đời sống thiêng liêng của chị. Năm 20 tuổi, chị lãnh nhận tu phục Dòng Ba Đa Minh. Tuy nhiên, vì không có tu viện nào trong thành phố nơi chị đang sống, nên chị đã biến một căn nhà gỗ trong khu vườn của cha mẹ thành nơi ẩn tu của mình.

2.- Cầu nguyện – con đường gặp gỡ Đức Kitô

Khi sống kiếp phàm nhân, Chúa Giêsu đã để lại gương mẫu cho chúng ta về đời sống cầu nguyện liên lỉ của mình. Người luôn cậy nhờ đến sức mạnh của lời cầu nguyện trước và trong mọi biến cố để nhận ra thánh ý của Chúa Cha. Noi gương Đấng mà thánh nữ mến yêu hiến dâng, Rosa Lima đã dành hầu hết thời gian cho việc cầu nguyện và suy niệm để tìm kiếm thánh ý Chúa trong suốt cuộc đời của chị.

Nếu như từ những ngày đầu trong sứ vụ công khai, Chúa Giêsu luôn dành cho mình những giờ phút thinh lặng trong cô tịch, dù rạng đông hay trong đêm tối, Ngài luôn “nói chuyện” với Cha của mình, lãnh nhận thánh ý Chúa Cha ; thì chị thánh Rosa của chúng ta cũng không ngoại lệ, chị đã dùng trọn ngày sống của mình để kết hợp mật thiết với Đức Kitô, vị Lang Quân của lòng chị. Tình yêu của chị dành cho Chúa Kitô rực sáng như mặt trời, soi chiếu khắp nơi và tỏa hương thơm ngát như chính cái tên của chị. Tình yêu ấy cứ lớn dần theo năm tháng trong sự cô tịch nhưng lại chan chứa niềm vui, một niềm vui nơi đó có Đức Kitô. Chị thánh có một thói quen vừa đi dạo vừa đọc Thánh vịnh để ca tụng Chúa. Chị không bao giờ hoang phí từng khoảnh khắc của đời mình dù chỉ một giây để nói chuyện và cầu nguyện với Chúa, đúng như câu châm ngôn của Dòng mà chị muốn tháp nhập vào : “Chỉ nói với Chúa và nói về Chúa”.

Mỗi bước chân của chị là một lời chúc tụng Thiên Chúa. Vạn vật cỏ cây trong khu vườn nhỏ bé của chị đều là những điều kỳ diệu mà Thiên Chúa đã tạo tác để tất cả cùng hòa chung lời chúc tụng và ngợi khen Thiên Chúa với thánh nữ.

3.- Lòng bác ái đối với tha nhân, đặc biệt là những người da màu

Tình yêu của Thiên Chúa là tình yêu phổ quát. Thiên Chúa không phân biệt người Do Thái và dân ngoại, giữa giàu và nghèo, giữa sang và hèn …

Tình yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa là tình yêu gương mẫu cho mọi thứ tình yêu trên thế gian này và nó được thể hiện cụ thể nơi Đức Giêsu Kitô. Thánh nữ Rosa Lima cũng có một tình yêu đặc biệt đối với những người nghèo, người ốm đau-bệnh tật, người già neo đơn và tất cả các trẻ em nghèo bị bỏ rơi ở Lima. Chị đã phân phát tất cả những gì mình có cho những người nghèo, kể cả vải vóc và quần áo của chị. Mẹ của thánh nữ hỏi ngài rằng : “Nếu con bị bệnh, con sẽ tìm đâu ra quần áo con cần” ? Chị thánh trả lời “nếu con thật sự cần, Chúa sẽ chu cấp cho con”. Nơi thánh nữ, chúng ta nhận ra một sự tín thác tuyệt đối cho sự quan phòng của Thiên Chúa.

Vào thời điểm đó, sự phân biệt chủng tộc ở Lima rất mạnh mẽ và khắc nghiệt. Giống như Chúa Giêsu, thánh nữ đã không lựa chọn giữa những người bất hạnh mà chị giúp đỡ : người Ấn Độ hay Tây Ban Nha, người da trắng hay da màu, tự do hay nô lệ nhưng chị đã chăm sóc tất cả mọi người với một tình yêu xuất phát từ con tim chân thành của mình. Trong mối phúc, Chúa Giêsu đã nhấn mạnh đến lòng bác ái. Lòng bác ái không chỉ dừng lại ở lời nói nhưng cần được thể hiện bằng hành động. Bác ái là tình yêu với Thiên Chúa, thể hiện nơi tình yêu đối với tha nhân. Chúa Giêsu Kitô là Đấng đã liên kết cả hai nên một. Nơi Người, bác ái được bao bọc bởi đức tin và đức cậy. Vì thế, thánh Phaolô nói rằng, đức bác ái là “nữ hoàng” của các nhân đức và sẽ chẳng bao giờ hư mất (1Cr 13,8 ; 13,13).

Thánh nữ Rosa đã suy niệm và ghi nhớ tất cả những giáo huấn của Thiên Chúa. Chị luôn thao thức và trăn trở “làm sao tìm được một nơi để có thể đón tiếp những bệnh nhân ung thư nghèo khổ ?” Chị đã tha thiết và nài xin liên lỉ với Thiên Chúa cuối cùng chị đã tìm được một bệnh viện để đón tiếp những người mắc bệnh nan y đó chính là căn phòng nhỏ bé của chị. Chị đã chăm sóc tận tình một bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối suốt 5 tháng tại căn phòng của chị. Như một phép lạ, người phụ nữ mắc căn bệnh ung thư đã được ơn chữa lành nhờ vào sự chăm sóc đặc biệt của thánh nữ.

4.- Sự kết hợp hoàn hảo giữa cầu nguyện và bác ái theo gương Chúa Giêsu

Cầu nguyện, đối với thánh nữ Rosa Lima, là đi vào mối tương quan mật thiết với Thiên Chúa để kín múc ân sủng, sức mạnh và sự nâng đỡ của Người, hầu giúp chị tiến bước trên con đường đức tin. Cầu nguyện mở ra con đường cho những hoạt động tông đồ của chị.

Không dễ dàng để phục vụ nếu không có ơn Chúa và không có tâm hồn sống động trong cầu nguyện. Chúng ta không thể chia sẻ tình yêu nếu chúng ta không cảm nghiệm được tình yêu của Chúa trong cuộc đời của mình. Chúng ta không gặp được Chúa nơi tha nhân nếu chúng ta không có kinh nghiệm gặp gỡ Ngài trong chiêm niệm và cầu nguyện. Thánh Phaolô nhấn mạnh với chúng ta rằng bác ái là trên hết. Mọi sự được hoàn thiện trong đức ái (x. 1Cr 13,4). Bác ái là tình thương biểu lộ ra bên ngoài và nhận ra những giá trị đích thực bên trong của mỗi người. Chúng ta cầu nguyện để biết và làm theo ý muốn của Thiên Chúa và sống giống như Ngài và với Ngài. Con đường của Thiên Chúa là con đường yêu thương “Cứ dấu này mà mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy, đó là anh em có lòng yêu thương nhau” (Ga 13,35). Tình yêu không phải chỉ ở đầu môi chót lưỡi, nhưng phải biến thành hành động bác ái (x. Gc 2,17).

Một ngày kia, trong lúc Rosa đang cầu nguyện, bỗng dưng chị nghe thấy tiếng khóc của một cô gái trẻ đáng thương, chị đã mau mắn gác lại việc cầu nguyện và đến bên cô để an ủi, để “lau khô” những giọt nước mắt cho cô gái trẻ này. Rõ ràng, thánh Rosa là mẫu gương cho chúng ta trong việc phân định điều gì là quan trọng và cần thiết hơn. Đừng nghĩ rằng, chị thánh đã coi nhẹ việc cầu nguyện hơn là bác ái. Không phải thế ! Nhưng chị đã lắng nghe và biết được điều gì là quan trọng trong lúc này.

Nếu chúng ta chỉ biết cầu nguyện nhưng chúng ta lại vô tâm trước lời than khóc của tha nhân, những người sống xung quanh chúng ta thì chúng ta chẳng khác gì so với những người Pharisiêu và Biệt Phái. Nếu chúng ta nói chúng ta yêu mến Chúa nhưng chúng ta lại làm ngơ với anh em thì tình yêu của chúng ta là một thứ tình yêu chết không sinh hoa lợi. Chúa Giêsu đã dạy cho các môn đệ của Người “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau, anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13,34- 35). Tình yêu mà Chúa Giêsu đòi hỏi nơi chúng ta là một tình yêu xuất phát từ đáy lòng của chúng ta và được thể hiện qua các hành động bác ái với tha nhân. Chúa Giêsu mời gọi chúng ta hãy cho đi những gì mình có, vật chất cũng như tinh thần “Ai cho một trong những kẻ bé nhỏ này uống, dù chỉ một chén nước lã thôi, vì kẻ ấy là môn đệ của Thầy, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu” (Mt 10, 42).

5.- Lòng yêu mến Thánh Giá được thể hiện qua việc khổ chế

Chúa Kitô trên thập giá đã hiến tặng cho nhân loại ơn cứu độ, thì lòng bác ái của chị thánh Rosa đã cứu rỗi các linh hồn, thật cân xứng với tình yêu của chị dành cho Chúa Kitô chịu đóng đinh. Chị cảm thấy vô cùng đau đớn khi nghĩ đến những linh hồn đã mất sau khi được mua bằng giá đắt, giá Máu của Chúa Kitô. Chị đã khóc cho số phận của nhiều giáo phái dị giáo đang tàn phá khắp Âu Châu. Thánh nữ Rosa Lima đã vươn lên trong lời cầu nguyện, phục vụ những người nghèo nhất xã hội, ăn chay và hành xác, chị luôn khát khao các ân sủng của Bí tích Rửa Tội nở hoa trong mình để bước theo dấu chân của Chúa Kitô nghèo khó và đau khổ trên thánh giá. Đối với chị, sự thánh thiện đích thực không nằm ở việc sám hối của thân xác, nhưng ở nơi tâm hồn, vốn đòi hỏi sự khiêm nhường và vâng phục.

Thánh Phaolô nhấn mạnh rằng lời vâng phục trên thập giá của Chúa Kitô dẫn chúng ta vào sự Phục Sinh của Người. Vậy, chúng ta không còn sống theo xác thịt, chúng ta không còn là những con người trần thế. Chúng ta chỉ biết Chúa Kitô đã chết và sống lại. Tạo vật cũ đã lỗi thời và Thiên Chúa đã tái tạo trở nên những tạo vật mới (x. Rm 8,1-11). Sự rực cháy trong lối hành văn của thánh Phaolô đã thiêu đốt trái tim của thánh nữ Rosa. Tình yêu Đức Kitô đã chiếm lấy chị. Ý tưởng rằng : “chỉ có một Người chết cho tất cả nhân loại” đã truyền cảm hứng cho ơn gọi của chị trong Gia Đình Đa Minh. Ngoài những người tội lỗi và phần rỗi của các linh hồn đã khuất, chị Rosa còn khát khao cho nỗi thống khổ về ơn cứu độ của những người da đỏ, những người mà chị đã yêu thương và cống hiến cuộc đời của mình.

 

6.- Thánh Rosa đã sống một cuộc đời sám hối và cô tịch

Theo gương Thánh nữ Catarina Siena, từ thuở thơ ấu, Rosa đã ăn chay, từ chối ăn thịt và trái cây, chị chỉ ăn bánh mì và uống nước. Qua việc đền tội mãnh liệt về thể xác, chị đã dâng mình cho Chúa như một nạn nhân đẫm máu để kết hợp với Chúa Kitô trên thánh giá hầu cứu chuộc các linh hồn trong luyện ngục và hoán cải tất cả những người đang sống trong tội lỗi. Chị đã tìm kiếm bất cứ thứ gì có thể làm khổ thân thể của chị. Chị đã nhặt những sợi dây gai và gom lại thành một bó để thực hiện công cuộc đánh tội hàng ngày cho đến khi máu chảy thấm đẫm thân thể chị. Thế nhưng, chị vẫn cảm thấy chưa đủ so với những tội lỗi mà nhân loại đã phạm, chưa đủ so với những nhục hình mà Chúa Kitô đã chịu trên thánh giá.

Tấm ván gỗ không làm thỏa mãn giấc ngủ của chị. Vì thế, chị đã tự đóng cho mình một chiếc giường bằng những mảnh gỗ buộc bằng dây, rồi chị lấp đầy những khoảng trống bằng những vật sắt nhọn hướng lên trên. Chị đã ngủ trên chiếc giường này suốt 16 năm cuối đời.

Trong một thị kiến, thánh Rosa đã nhìn thấy Chúa Giêsu với vẻ mặt nhân hậu và từ bi. Ngài nói với chị rằng :

“Hỡi con, hãy nhớ rằng giường thập tự giá mà Cha nằm chờ chết, còn cứng hơn, hẹp hơn và đáng sợ hơn gấp ngàn lần so với giường của con. Đinh đâm vào tay chân Cha, máu Cha tuôn trào từ những vết thương, Cha đã bị nếm giấm chua và mật đắng. Hỡi con yêu dấu, hãy suy niệm tất cả những đau khổ này, con hãy so sánh những đau đớn của Cha và lòng nhân từ của Cha dành cho con và nhân loại, Cha sẽ ban cho con sức mạnh và lòng can đảm”.

Cũng cần hiểu rằng, sự “ khổ chế” của Rosa không phải là một sự khinh miệt thân xác nhưng là dấu hiệu của một cuộc sống được hòa giải. Biết bao linh hồn và tội nhân được giao hòa với Thiên Chúa nhờ sự khổ hạnh của chị. Trong một lá thư, Rosa viết rằng :

“Chúng ta phải biết sau thử thách sẽ đến ân sủng. Chúng ta phải biết rằng nếu không có gánh nặng của những đau khổ thì người ta không thể đạt được đỉnh cao của ân sủng. Chúng ta phải hiểu rằng mức độ ân sủng tăng lên cùng với sự gia tăng của đau đớn. Con người phải cố gắng để không phạm lầm lỗi và sai lạc. Chiếc thang duy nhất của Thiên đường là thập giá. Vì ngoài thập giá không có cách nào để leo lên thiên đường”.

Vậy, có thể nói, thánh nữ Rosa đã áp dụng việc sám hối một cách nghiêm khắc. Chị đã dâng mình cho Chúa làm của lễ đền tội cho tội nhân, cho đất nước Pêru và cho dân tộc của mình. Chị đã biến những đau đớn của mình thành cái giá cho sự hoán cải của những người sắp lìa bỏ trần gian và cứu rỗi các linh hồn nơi luyện ngục.

Tóm kết

Gương mẫu sống tâm linh của thánh nữ Rosa Lima có thể chiếu soi cho người tín hữu nói chung, cách riêng với những tâm hồn dâng hiến cho Chúa trong ơn gọi tu trì, nhận ra giá trị của việc cầu nguyện và bác ái là hai điều vô cùng cần thiết cho đời sống thiêng liêng của chúng ta. Thánh nữ đã dạy cho chúng ta biết cầu nguyện là điều cần thiết và quan trọng nhất để đi vào mối tương quan với Thiên Chúa và nâng tâm hồn chúng ta hướng về Thiên Chúa. Nhờ việc gặp gỡ Ngài trong cầu nguyện, chúng ta bước vào con đường trọn lành.

Nhưng thánh nữ cũng cho thấy giá trị cao trọng của đức bác ái, qua việc phục vụ tha nhân. Rõ ràng, chúng ta gặp Thiên Chúa qua việc phục vụ tha nhân. Vì thế, cầu nguyện và bác ái trở thành tâm điểm của đời sống thiêng liêng vì cả hai đều xuất phát từ Thiên Chúa và là con đường dẫn chúng ta đến với Thiên Chúa Cha qua Chúa Kitô. Việc thực hành hai điều này giúp người Kitô hữu sống sự sống vĩnh cửu của Thiên Chúa ngay tại dương thế. Qua cuộc đời của thánh Rosa Lima, chúng ta nhận ra nơi thánh nữ có sự hiện diện của Chúa Kitô. Chị thánh đã thực sự sống hai điều răn lớn của Chúa Giêsu Kitô : “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, và hết trí khôn ngươi ; và yêu mến người  thân cận như chính mình” (Mc 12,30-31).

Tài liệu tham khảo

 

1.- La Bible de Jérusalem, Paris, Les Editions du Cerf, 2000.

2.- J-A. ROBILLIARD, O.P, L’amour du prochain, Cerf, Paris, 1954.

3.- Pape François, Catéchèse-13. Jésus, Maître de prière, mercredi 4, novembre 2020.

4.- Louis BOUYER, Introduction à la vie spirituelle, Paris,

1960.

5.- Anne DAIX, Sainte Rose de Lima, 1936.

6.- Propre de l’Ordre des Prêcheurs- Liturgie des heures

–  sanctoral, 1983.

Post a Comment

Mới hơn Cũ hơn